All for Joomla All for Webmasters

           Với phương châm “luôn tạo ra những sản phẩm chất lượng cao theo tiêu chuẩn Châu Âu – chất lượng Châu Âu, Một chữ tín trọn niềm tin”. Kim Lợi Đại Thành  đã đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, phòng thí nghiệm tiên tiến. Kim Lợi Đại Thành cùng với các chuyên gia dinh dưỡng vật nuôi hàng đầu trong và ngoài nước cùng chung sức cho ra các sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chất lượng cao, đảm bảo tốt nhất cho sự tăng trưởng và phát triển của vật nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, sản phẩm được sản xuất theo tiêu chí sạch nhờ sử dụng các loại nguyên liệu bổ sung cao cấp có nguồn gốc thiên nhiên mang lại năng suất cao cho vật nuôi, đồng thời không ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.

           Tất cả vì mong muốn chia sẻ thành công, đem lại sự thịnh vượng chung cùng những nhà chăn nuôi

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 8/2019

Theo Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2019 ước đạt 64 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2019 ước đạt 449 triệu USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Chăn nuôi trâu, bò: Theo Tổng cục Thống kê tỉnh hình chăn nuôi trâu, bò trong tháng Tám không có biến động lớn. Ước tính tổng số trâu của cả nước tháng Tám năm 2019 giảm khoảng 3,1%; tổng số bò tăng khoảng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi lợn: Dịch tả lợn châu Phi tại nhiều địa phương đang dần được kiểm soát, số lượng lợn tiêu hủy trong tháng Tám ít hơn các tháng trước (số lượng lợn bị tiêu hủy trong tháng Tám (tính đến 19/8) là khoảng 475,7 nghìn con, tháng Bảy là 883,7 nghìn con). Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng Tám năm 2019 giảm khoảng 18,5% so với cùng thời điểm năm 2018.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm cả nước trong tháng Tám nhìn chung phát triển tốt do thị trường tiêu thụ ổn định, giá bán ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao trong tháng Tám là môi trường thuận lợi để các chủng vi rút tồn tại, phát sinh. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng Tám năm 2019 tăng khoảng 10,0% so với cùng thời điểm năm 2018.

- Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP): Lũy kế từ đầu tháng 02/2019 đến ngày 20/8/2019, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 6.959 xã thuộc 592 huyện của 62 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 4.426.236 con, với tổng trọng lượng là 255.505 tấn; trong đó: + Có 4.386 xã thuộc 582 huyện của 62 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 2.907.354 con chưa qua 30 ngày. + Có 2.573 xã thuộc 355 huyện của 53 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 1.518.882 con đã qua 30 ngày. + Có 400 xã thuộc 196 huyện của 42 tỉnh, thành phố có dịch bệnh đã qua 30 ngày nhưng sau đó lại phát sinh lợn bệnh.

- Dịch cúm gia cầm: Tính đến 20/8/2019, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.

- Dịch lở mồm long móng: Tính đến 20/8/2019, cả nước có 01 ổ dịch tại phường 1, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

- Dịch lợn tai xanh: Tính đến 20/8/2019, cả nước không có dịch bệnh tai xanh.

 

Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2019 ước đạt 64 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2019 ước đạt 449 triệu USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2018.

Giá lợn nạc giao tháng 8/2019 thị trường Chicago, Mỹ biến động tăng trong tháng qua với mức tăng 0,015 UScent/lb lên 79,34 UScent/lb. Giá lợn tăng do xuất khẩu thịt lợn tăng đã hỗ trợ thị trường, cùng với việc giảm mối lo ngại về căng thẳng thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc, thị trường tiêu thụ thịt lợn hàng đầu thế giới. Trong tháng 8/2019, giá lợn hơi biến động tăng tại các địa phương trên cả nước do nguồn cung lợn thịt khan hiếm, khi số lượng lớn lợn nuôi bị tiêu hủy do nhiễm dịch tả lợn châu Phi.

Bên cạnh đó, nhiều hộ vẫn chưa dám tái đàn vì lo tiềm ẩn rủi ro nhiễm bệnh trở lại. Tại miền Bắc, giá lợn hơi tăng 4.000 – 10.000 đ/kg. Giá lợn hơi tại các tỉnh Chương Mỹ, Hoài Đức, Nam Định, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai dao động 44.000 – 46.000 đ/kg. Tại Phú Thọ, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Bình, Ứng Hoà, Vĩnh Phúc giá cao hơn khoảng 2.000 – 3.000 đ/kg, đạt 47.000 – 48.000 đ/kg. Vĩnh Phúc, Quảng Ninh có nơi lên tới 50.000 đ/kg. Như vậy, tính chung toàn miền giá lợn hơi trung bình đạt khoảng 46.000 – 47.000 đ/kg. Tại miền Trung, Tây Nguyên, giá lợn hơi cũng biến động tăng với mức tăng 6.000 – 8.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại Quảng Bình và Thừa Thiên Huế lần lượt là 42.000 đ/kg và 43.000 đ/kg. Tại Nghệ An, giá lợn có nơi lên tới 48.000 đ/kg; Thanh Hóa cũng tăng 6.000 đ/kg lên 46.000 đ/kg. Mặc dù vậy, một số địa phương như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, giá ở mức 32.000 – 34.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại Tây Nguyên dao động trong khoảng 39.000 – 42.000 đ/kg.

Giá lợn hơi tại miền Nam tiếp tục tăng, rất nhiều địa phương đồng loạt tăng 8.000 đ/kg – 10.000 đ/kg. Tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Hậu Giang, Kiên Giang, Cần Thơ tăng đạt mức trung bình 35.000 đ/kg – 37.000 đ/kg; tại miền Đông Nam Bộ như một số huyện của Đồng Nai, Tây Ninh, và Bình Dương 36.000 đ/kg – 38.000 đ/kg, một số nơi lên tới 41.000 – 42.000 đ/kg.

Dự báo, giá thịt lợn tăng mạnh trong 6 tháng cuối năm 2019, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên đán do nguồn cung thịt lợn giảm với ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi.

 Trong tháng 8/2019, giá thu mua gà và trứng tại trại giảm do nguồn cung dồi dào. Giá gà thịt lông trắng tại khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long giảm 1.000 – 2.000 đ/kg, hiện ở mức 24.000 – 25.000 đ/kg. Giá trứng gà tại trại 1.550 – 1.650 đ/kg, tăng 100 đ/kg so với tháng trước do nhu cầu tăng.

 

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 8/2019 ước đạt 318 triệu USD, đưa tổng giá trị thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2019 lên 2,53 tỷ USD, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2018. Achentina, Hoa Kỳ và Brazil là 3 thị trường nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2019, chiếm thị phần lần lượt là 38,5%, 16,4% và 6,4%. Trong đó, thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2018 là Hungari (gấp gần 5 lần). Ngược lại, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu của Brazil giảm mạnh nhất, với mức giảm là 51,8%.

 Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 8/2019 đạt 60 nghìn tấn với giá trị đạt 16 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị lúa mì nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm 2019 đạt 1,53 triệu tấn với giá trị đạt 426 triệu USD, giảm 58,2% về khối lượng và giảm 51,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Ba thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 7 tháng đầu năm 2019 là Australia, Canada và Nga với thị phần lần lượt là 38,3%, 20,8% và 12,1%. Trong 7 tháng đầu năm 2019, thị trường có giá trị nhập khẩu lúa mì tăng mạnh nhất là Ấn Độ (gấp 13 lần). Ngược lại, thị trường có giá trị nhập khẩu lúa mì giảm mạnh nhất là Nga (-85,8%) so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 8/2019 đạt 786 triệu tấn với giá trị đạt 157 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị ngô nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm 2019 đạt 6,13 triệu tấn và giá trị đạt 1,27 tỷ USD, tăng 1,1% về khối lượng và tăng 2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Achentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 7 tháng đầu năm 2019, chiếm thị phần lần lượt là 62,9% và 34,2% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Trong 7 tháng đầu năm 2019, khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô tăng mạnh nhất là Brazil với mức tăng là gấp 3,66 lần về khối lượng và gấp 4,02 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương:

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 8/2019 đạt 47 nghìn tấn với giá trị 20 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị đậu tương nhập khẩu trong 8 tháng đầu năm 2019 đạt 1,07 triệu tấn và 423 triệu USD, giảm 6,3% về khối lượng và giảm 15,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com

             Sản phẩm  được xây dựng thành phần dinh dưỡng cân đối, đảm bảo về dưỡng chất trong thức ăn. Điều này giúp vật nuôi có khả năng đề kháng stress do bệnh tật và phòng được các bệnh chủ yếu ở gia súc, gia cầm đảm bảo an toàn trong chăn nuôi. Sản phẩm  phát triển chương trình chăn nuôi, thú ý phù hợp xu hướng thịt sạch, đáp ứng nhu cầu thị trường. Với đội ngũ chuyên gia định dinh dưỡng và chuyên gia thú y giỏi, nhiều kinh nghiệm sẵn sàn mang đến cho quý đơn vị các loại dịch vụ tốt nhất.Sản phẩm được kiểm tra kỹ lưỡng bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệm cùng với các máy móc thiệt bị hiện đại.

Cam kết “3 không” trong cung cấp hàng hóa/dịch vụ:

          không có sản phẩm, dịch vụ thiếu nguồn gốc xuất xứ;

          không có sản phẩm, dịch vụ là hàng giả, hàng nhái;

          không có sản phẩm, dịch vụ xâm phạm quyền Sở Hữu Trí Tuệ.

       

Top